Danh nhân đất Bình Giang

26 12 2016
198 lượt xem

Xứ Đông - Hải Dương được xem là một trong tứ trấn bao quanh kinh thành Thăng Long – Hà Nội; là phên dậu, che chở cho kinh thành, đồng thời còn là mảnh đất cung cấp những nhân tài, hào kiệt, nhân lực, vật lực. Hải Dương đã sản sinh và nuôi dưỡng nhiều bậc hiền tài (riêng thời phong kiến có 472 vị tiến sĩ Nho học, trong đó có 11 Trạng nguyên) làm rạng danh cho đất nước trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, khoa học, quân sự, chính trị, kinh tế, giáo dục..., trong đó huyện Bình Giang, được coi là một trong những huyện có nhiều danh thần, danh sĩ của Hải Dương.

Bình Giang là nơi nổi tiếng hiếu học, một trong những cái nôi văn hiến đã sinh thành nhiều vị Tiến sĩ lưu truyền theo tháng năm lịch sử "Tiền làng Đọc, thóc làng Nhữ, chữ làng Chằm", câu nói ấy đã khái quát một cách ngắn gọn chính xác những thế mạnh về kinh tế, văn hóa các vùng quê ở Bình Giang.

Trong vòng 6 thế kỷ từ năm 1344 đến 1883 huyện Bình Giang có 99 tiến sĩ, trong đó có những vị tài năng nổi tiếng trong cả nước như Lê Cảnh Tuân đỗ đệ tam giáp tiến sĩ khoa Tân Dần 1381, Lê Nại đỗ Trạng Nguyên 1505, Vũ Tụ đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ Sửu năm Hồng Đức thứ 24 làm quan đến Hữu thị lang bộ hình đặc ban liêm tiết công thân, Nhữ Đình Hiền đỗ tiến sĩ năm Canh Thân (1680) niên hiệu Vĩnh Trị thứ 5 làm quan Thượng thư bộ hình, Trần Vĩ đỗ tiến sĩ năm Giáp Thìn niên hiệu Hoàng Định thứ 5 được phong Đông các đại học sĩ thiên bảo. Đặc biệt làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng có tới 36 người đỗ đạt cao, trong đó có 01 Trạng Nguyên, 9 Hoàng Giáp, 26 tiến sĩ, là một trong những làng có số tiến sĩ nhiều nhất trong cả nước ta, được mệnh danh là "Lò tiến sĩ xứ Đông" với những tên tuổi làm rạng danh quê hương xứ sở.

Dưới đây xin được giới thiệu về một số danh nhân, danh sĩ, danh thần huyện Bình Giang

1. Danh sĩ Vũ Hữu

Danh sĩ Vũ Hữu còn gọi là Võ Hữu, nhà toán học đời Lê Thánh Tông (黎聖宗; 1442 - 1497), sinh năm Đinh Tỵ (1437) quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Năm Quý Mùi (1463), ông đỗ Hoàng giáp, ông làm quan rất thanh liêm, cuộc sống gia đình cần kiệm.

Ông làm đến Thượng thư bộ Hộ, tước Dương Tùng Hầu (có sách chép Tùng Dương Hầu), ngoài 70 tuổi ông về hưu, làm nhà đặt tên là Phượng Trì am.
Ngoài tài văn học, chính trị, ông còn là nhà toán học, có biên soạn tác phẩm Đại thành toán pháp chỉ dẫn cách chia tính ruộng đất, xây dựng nhà cửa, thành lũy...Có thể đây là bộ sách toán học ra đời khá sớm của lịch sử toán học nước ta trong thời trung đại.

2. Danh thần Vũ Quỳnh

Danh thần Vũ Quỳnh đời nhà Hậu Lê, tự Thủ Phát, hiệu Đốc Trai, Yến Xương, người xã Mộ Trạch, huyện Đường An (nay là xã Mộ Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Năm 29 tuổi, ông thi đỗ Tiến sĩ khoa thi Mậu Tuất (1478) đời vua Lê Thánh Tông (黎聖宗; 1442 - 1497), niên hiệu Hồng Đức thứ 9. Ông trải qua thờ 5 triều vua, từ đời vua Lê Thánh Tông đến đời vua Lê Tương Dực. Làm quan đến chức Thượng thư.

Năm Canh Ngọ (1510), đời vua Lê Tương Dực, niên hiệu Hồng Thuận nguyên niên, ông phụng mạng vua Lê soạn sách Đại Việt thông giám thông khảo¸ gọi tắt là Việt giám thông khảo, đến năm 1511 thì xong.
Sách Việt giám thông khảo gồm 26 quyển chép từ đời Hồng Bàng đến năm đầu Đại Định đời vua Lê Thái Tổ (黎太祖; 1385 – 1433), chia thành Ngoại kỷ (từ họ Hồng Bàng đến hết nhà Ngô) và Bản kỷ (từ đời Đinh Tiên Hoàng đến năm đầu vua Lê Thái Tổ).

Vũ Quỳnh vốn là một thi sĩ, ông là tác giả Tố cầm tập (tập đàn thường). ngoài ra ông còn hiệu đính và đề tựa sách Lĩnh nam chích quái.

3. Trạng cờ Vũ Huyên

Danh thủ cờ tướng Vũ Huyên (hay Võ Huyên) đời Lê Huyền Tông sinh năm Canh Tuất (1670). Con quan Nghè Vũ Đôn, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng,huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Năm Nhâm Thìn (1712), niên hiệu Vĩnh Trị thứ 8 đời Lê Dụ Tông, ông thi Hương đậu Giải Nguyên, và đậu tiến sĩ khoa Nhâm Thìn.

Theo nhiều tài liệu lịch sử thì ông Vũ Huyên là con ông Vũ Thạnh, là cháu ông Vũ Huy. Ba anh em, chú cháu cùng làm quan trong triều nên đương thời có người mừng câu đối rằng ‘Đồng triều tam tiến sĩ. Nhất nhật lưỡng vinh qui" (cùng một triều đại có 3 Tiến sĩ. Trong một ngày có hai người cùng về vinh qui bái tổ).
Ông có tiếng văn chương, lại chuyên về môn đấu cờ tướng không ai hay hơn ông. Có lần, sứ giả Trung Quốc rất kiêu ngạo thách đố vua ta chơi cờ với điều kiện ngặt nghèo. Nhà vua thấy rõ thua nên rất lo lắng. Quần thần họp bàn và tâu trình phải triệu trạng cờ làng Mộ Trạch tên là Vũ Huyên, chính ông cầm lọng đứng hầu bên nhà vua đã mách nước cho nhà vua thắng sứ giả. Nhờ công lao ấy, ông được vua ban cho danh hiệu "Đấu kỳ Trạng nguyên" (Trạng nguyên đấu cờ). Nhiều tay cao cờ đến đua tài với ông đều phải phục tài trí ông.

4. Danh sĩ Vũ Đức Khuê

Danh sĩ triều Nguyễn, quê làng Hoa Đường, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Năm Nhâm Ngọ (1822), ông đỗ tiến sĩ. Đây là khoa tiến sĩ đầu tiên của triều Nguyễn. Ông làm quan đến Hữu tham tri bộ Hộ. Ít lâu bị giáng chức, sau được thăng Lang trung ở Nội các.

Ông là người soạn bài kí khắc vào bia đá ghi lại việc xây cất hồ Phương Đình (ngôi đình vuông) thuộc phường Hà Khẩu ở Thăng Long ngày xưa, nay hãy còn dấu tích.

5. Danh Thần Bùi Hoàn Khánh

Danh thần Bùi Hoàn Khánh đời Lê Thánh Tông (黎聖宗; 1442 -1497), quê ở làng Tuy Lai, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương, nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Năm Canh Tuất (1490), niên hiệu Hồng Đức 21, ông đỗ tam giáp đồng tiến sĩ lúc 17 tuổi, nổi tiếng về tài văn thơ, đương thời được sĩ phu yêu mến, làm dần đến Thị Lang và mất khi còn đang tại chức.

6. Danh thần Vũ Duy Chí

Danh thần Võ Duy Chí đời Lê Thần Tông (黎神宗; 1607 - 1662), quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay thuộc làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Ông là em Hoàng Giáp Võ Bạt Tụy, nổi tiếng văn thơ, có cơ mưu, được chúa Trịnh Tạc ưu ái trọng dụng, làm đến Thượng thư bộ Lại, tước Phương Quận Công. Sau ông cùng với Trần Đăng Tuyển vào làm Tham tụng ở phủ chúa Trịnh.
Năm Bính Thìn (1676), ông về hưu, được thăng Thượng thư bộ Lại, Quốc lão Thiếu phó.

7. Danh sĩ Vũ Thạnh

Danh sĩ Vũ Thạnh đời Lê Hy Tông (黎熙宗; 1664 - 1717), sinh năm Giáp Thìn (1664), quê làng Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).
Nhà nghèo, ông bỏ quê, ra ở chùa Báo Thiên, huyện Thọ Xương, theo học với tiến sĩ Võ Công Đạo ở Kinh đô. Có chí, có tài, ông nổi tiếng văn thơ.
Năm Ất Sửu (1685), ông đỗ Thám hoa làm đến Hồng lô tự khanh, Thiêm đô ngự sử, Bồi tụng. Từng bị chúa Trịnh bãi chức, nhưng không lâu lại được khôi phục chức cũ. Lúc về hưu ông mở trường dạy học tại quê nhà.
Tác phẩm của ông là bộ Hào Nam văn tập (lấy tên nơi ông mở trường dạy học trại Hào Nam, thuộc Kinh đô) nay đã mất.

8. Văn thần Vũ Trần Thiệu

Văn thần Vũ Trần Thiệu đời Lê Ý Tông (黎懿宗; 1719 - 1759) vốn tên là Võ Trần Tự, về sau đổi là Thiệu, sinh năm Bính Thân (1736), quê làng Thái Cực, huyện Thọ Xương, trú ở huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Năm Kỷ Mão (1759), ông đỗ Hoàng giáp, làm quan đến Tả đô, tước Bá. Hai lần đi sứ nhà Thanh (Trung Quốc). Đến đời vua Lê Hiển Tông (黎顯宗; 1716 - 1786), khi chúa Trịnh Sâm muốn lật đổ nhà Lê, sai ông đi sứ lần III, giao cho tờ mật biểu cầu phong.

Ông cùng Hồ Sĩ Đống sang Trung Quốc, đến Động Đình hồ, ông đốt tờ biểu, rồi uống thuốc độc tự tử. (Có sách chép: Ông uống thuốc độc chết để tỏ lòng phản đối chúa Trịnh, còn Hồ Sĩ Đống thì đốt tờ biểu, khi về trình dối là Võ Trần Thiệu đã đốt bỏ).

Ông được xưng tặng là tiết nghĩa, truy phong Thượng thư.

9. Văn thần Doãn Ân Phủ

Văn thần Doãn Ân Phủ đời Trần Anh Tông (陳英宗; 1276-1320), không rõ năm sinh, năm mất quê ở phủ Bình Giang, châu Thượng Hồng, lộ Lạng Giang, tỉnh Hưng Yên, nay huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Năm 1317, đời Trần Minh Tông (陳明宗; 1300-1357), ông được cử đi sứ nhà Nguyên. Khi đi sứ ông có làm nhiều thơ văn được danh sĩ Trung Quốc đương thời tán tụng. Trong An Nam chí lược, Lê Tắc chép Doãn Thế Thôn (có lẽ là hiệu của Ân Phủ) làm quan đến bậc Đại phu và nhiều lần cùng Định Quan đi sứ Trung Quốc.

10. Khúc Thừa Dụ

Khúc Thừa Dụ (曲承裕) là người đã từng một thời trị nước an dân. Quê ở Hồng Châu thuộc vùng Bình Giang và Ninh Giang tỉnh Hải Dương, nay thuộc hai huyện Bình Giang và Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Ông vốn con nhà hào phú. Hồi bấy giờ nước ta bị nhà Đường đô hộ, nhưng thế nhà Đường đã suy, các hào kiệt dấy binh chống lại. Khúc Thừa Dụ được suy tôn làm lãnh tụ. Ông lãnh đạo thành công việc đánh đuổi bọn quan lại đô hộ rồi nắm chính quyền vào năm Bính Dần 906, nhưng vẫn xưng là Tỉnh Hải tiết độ sứ.
Năm sau, Đinh Mão 907, ông mất. Con là Khúc Hạo thay nắm quyền.

11. Khúc Hạo

Khúc Hạo (曲顥) còn gọi là Khúc Thừa Hạo (曲承顥) là con của Khúc Thừa Dụ, thay cha làm Tiết độ sứ vào năm Đinh Mão 907, hết lòng chăm lo việc dân nước. Ông quê ở Hồng Châu thuộc vùng Bình Giang và Ninh Giang tỉnh Hải Dương, nay thuộc hai huyện Bình Giang và Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Khúc Hạo đã tiến hành cải cách quan trọng về các mặt. Đường lối chính trị của ông được sử sách tóm lược ngắn gọn song rất rõ ràng: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Khoan dung tức là không bắt buộc, không quá khắt khe với dân, chống tham quan ô lại. Giản dị là không làm phiên hà, sách nhiễu bởi nhiều thủ tục quan liêu. Yên vui, “an cư lạc nghiệp” là lý tưởng của nếp sống mà người nông dân nơi thôn xóm mong đợi.

Khúc Hạo sửa lại chế độ điền tô, thuế mà lực dịch nặng nề của thời thuộc Đường. Ông ra lệnh “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng (quản giáp) trông coi”.

Năm Đinh Sửu 917 ông mất, con là Khúc Thừa Mỹ nối nghiệp.

12. Khúc Thừa Mỹ

Khúc Thừa Mỹ (曲承美) là con của Khúc Hạo, thay cha làm Tiết độ sứ từ năm Đinh Sửu 917. Ông là người ở Hồng Châu, thuộc vùng Bình Giang và Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, ngày nay là huyện Bình Giang và Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương.

Về đối nội, theo sử sách, sau khi lên thay cha, Khúc Thừa Mỹ không tiếp tục chính sách “khoan thứ sức dân” mà Khúc Hạo đã áp dụng. Nhân dân tại Tĩnh Hải quân phải lao dịch nặng nề, do đó sự ủng hộ với họ Khúc không còn được như trước.

Về mặt đối ngoại, Khúc Thừa Mỹ chủ trương kết thân với nhà Hậu Lương ở trung nguyên mà gây hấn với nước Nam Hán liền kề. Năm 919, ông sai sứ sang Biện Kinh xin tiết việt của nhà Hậu Lương. Vua Lương là Mạt đế Chu Hữu Trinh, bấy giờ bận đối phó với các nước lớn ở Trung nguyên nên ban Tiết Việt cho Khúc Thừa Mỹ và phong ông làm Tiết độ sứ Giao châu.

Sử gọi đời Khúc Thừa Mỹ là Khúc Hậu chủ, đời Khúc Hạo là Khúc Trung chủ, Khúc Thừa Dụ là Tiên chủ, các đời này gọi chung là thời Tự chủ.

13. Danh sĩ Vũ Huy Đỉnh

Danh sĩ Vũ Huy Đỉnh (còn gọi là Võ Huy Đỉnh) đời vua Lê Hiển Tông (黎顯宗; 1716 - 1786), tự Ôn Kì, hiệu Di Hiên. Ông vốn tên là Vũ Trọng Cung, sau đổi là Huy Đỉnh, Huy Túc. Quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).
Năm Giáp Tuất (1754), ông đỗ tiến sĩ, nổi tiếng văn chương, giỏi việc chính trị, từng được cử đi sứ Trung Quốc trong năm 1772. Làm quan đến Thị lang bộ Binh, kiêm Tế tửu Quốc tử giám, tước Hồng Trạch Bá.

Năm Kỷ Dậu (1789), ông mất, hưởng dương 59 tuổi. Con ông là Vũ Huy Tấn, học trò là Ninh Tốn đều là danh sĩ nổi tiếng trong triều Tây Sơn, từng giúp vua Quang Trung trong việc ngoại giao và bình định xứ sở.

Ông là một danh sĩ nổi tiếng đương thời, có nhiều tác phẩm văn sử, địa học giá trị: Hoa trình tạp thi, Thanh Hoá hậu tập, Thanh Hoá tiền tập, Kỉ thắng tập, Nam trung tập, Tuyên Quang tập, Sơn Tây tập, Tùng vịnh tập, Quang Thương tiền tập, Bách đài tập, Tình tuyết tập và một số thơ văn khác.

14. Danh sĩ Vũ Huy Tấn

Danh sĩ Vũ Huy Tấn (còn gọi là Võ Huy Tấn) đời Lê Hiển Tông (黎顯宗; 1716 - 1786) là con trai của tiến sĩ Vũ Huy Đỉnh còn có tên là Vũ Huy Liễn, hiệu Nhất Thủy. Quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Năm Mậu Tý (1768), ông đỗ Giải nguyên cùng khoa với Phan Huy Ích. Sau khi đỗ được bổ làm Thị nội ở Viện Hàn lâm. Khi vua Quang Trung ra Bắc, ông ra giúp nhà Tây Sơn, làm Hàn lâm đãi chế, rồi thăng đến Thượng thư bộ Công. Hai lần đi sứ Trung Quốc giúp vua Quang Trung trong công việc ngoại giao. Năm 1795, được đặc cách phong Thượng trụ quốc, Thị trung đãi chiếu, Thượng thư.
Năm 1800, ông mất, hưởng dương 51 tuổi.

Khi đi sứ Trung Quốc cùng giả vương Phạm Công Trị, ông đã bảo vệ được danh dự quốc gia trong việc phản đối quan lại nhà Thanh xấc xược gọi các quan trong sứ bộ Việt Nam là “di quan” (quan mọi rợ). Tinh thần tự hào dân tộc của ông được thể hiện qua thơ văn ca ngợi chiến thắng quân Thanh dưới sự chỉ huy của anh hùng Quang Trung.

Tác phẩm chính của ông là bộ Hoa Nguyên tùy bộ tập.

15. Văn nhân Vũ Phương Đề

Văn nhân Vũ Phương Đề đời nhà Lê, tự Thuần Phủ, sinh năm Đinh Sửu (1697), người xã Mộ Trạch, huyện Đường An (nay là xã Mộ Trạch, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương), con danh sĩ Vũ Phương Nhạc làm quan triều Lê.
Năm Bính Thìn (1736), ông 39 tuổi, đỗ tiến sĩ khoa thi năm Bính Thìn (1736) đời Lê Y Tôn, niên hiệu Vĩnh Hựu 2. Ông làm quan đến chức Đông các Học sĩ.
Ông là tác giả Công dư tiệp ký (những chuyện ghi nhanh trong lúc rỗi việc quan) (tựa đề năm Ất Mùi 1775) ghi chép các truyện danh nhân theo mặt địa lí, phong thủy... Tất cả cộng 43 truyện

16. Văn thần Doãn Ân Phủ

Văn thần Doãn Ân Phủ đời Trần Anh Tông (陳英宗; 1276-1320), không rõ năm sinh, năm mất, quê ở phủ Bình Giang, châu Thượng Hồng, lộ Lạng Giang, tỉnh Hưng Yên, nay huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Năm 1317, đời Trần Minh Tông (陳明宗; 1300-1357), ông được cử đi sứ nhà Nguyên. Khi đi sứ ông có làm nhiều thơ văn được danh sĩ Trung Quốc đương thời tán tụng. Trong An Nam chí lược, Lê Tắc chép Doãn Thế Thôn (có lẽ là hiệu của Ân Phủ) làm quan đến bậc Đại phu và nhiều lần cùng Định Quan đi sứ Trung Quốc.

17. Danh sĩ Vũ Nhự

Danh sĩ Vũ Nhự đời Tự Đức, tự là Đông Phần, sinh năm Canh Tỵ (1840) nguyên quán làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, ngụ xã Kim Cổ, huyện Thọ Xương, Hà Nội (nay ứng với quận Hoàn Kiếm, quận Hai Bà Trưng và một phần quận Đống Đa, thành phố Hà Nội).

Năm Tân Dậu (1861), ông đỗ cử nhân, Mậu Thìn (1868) đỗ Hoàng giáp, làm quan đến Đốc học Hà Nội, hàm Quang lộc tự khanh, sung Nội các. Có lúc ông lãnh chức Tuần phủ Hà Nội. Sau đó trở về kinh được thăng Tham tri, Toản tu Quốc tử giám.

18. Danh sĩ Vũ Duy Đoán

Danh sĩ Võ Duy Đoán đời Lê Huyền Tông (黎玄宗, 1654 - 1671), hiệu Quế Am, con Hoàng giáp Võ Bạt Tụy. Quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay là xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).
Ông thuở trẻ tối dạ, học kém, mãi đến năm 17 tuổi mới phát tâm chăm học, nổi tiếng hay chữ. Ông đi thi Hương đỗ Giải nguyên, rồi đỗ Hội nguyên khoa Giáp Thìn (1664), được chúa Trịnh Tạc ưu đãi làm đến Thượng thư bộ Công tước Đường Xuyên Tử.

Tính ông trung trực, khảng khái, gặp việc dám nói thẳng. Ông biên soạn quyển Kim giám lục dâng chúa Trịnh, đại khái khuyên chúa nên giữ lòng chân chính, nên biết dùng người, tránh nghe lời gièm pha của bọn nịnh thần, bớt xa xỉ...
Sau vì việc nói thẳng làm phật lòng chúa Trịnh, ông và Võ Công Đạo bị bãi chức. Về quê ở ẩn, ông dạy học, chuyên tâm sáng tác văn học.
Năm Giáp Tý (1684), ông mất, thọ 63 tuổi.

Còn để lại đời nhiều thơ phú như: Hàn Tín điếu thành hạ, Phạm Lãi du ngũ hồ..., Trạch hương phong cảnh, Nông gia khảo tích dị văn (phần lớn đều bằng chữ Nôm).

19. Danh sĩ Vũ Cán

Danh sĩ Võ Cán còn gọi là Vũ Cán đời Lê Hiến Tông (黎憲宗; 1461 - 1504), tự Tùng Hiên, quê xã Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương (nay là xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Con danh sĩ Võ Quỳnh.

Năm Nhâm Tuất (1502), ông đỗ tiến sĩ, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ, kiêm Chưởng quản các việc ở viện Hàn lâm, tước Lễ Độ Bá. Ông từng đi sứ Trung Quốc trong năm Canh Ngọ (1510). Về sau, ông lại làm quan nhà Mạc.

20. Đô vật Vũ Phong

Đô vật nổi tiếng Trạng Vật đời Lê Thánh Tông (黎聖宗; 1442 - 1497), không rõ năm sinh năm mất. Em ruột Thượng thư Võ Hữu, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay là xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ông có tướng ngũ đoản, nhưng rất giỏi môn đấu vật. Một hôm ra kinh thành, ông nhìn thấy các đô lực sĩ hộ vệ nhà vua, tỏ ý chê cười, thách thức đấu vật với họ. Nhà vua chấp thuận cuộc thi đấu giữa ông với đô lực sĩ trong triều. Ông quật ngã đối thủ, được phong làm đô lực sĩ. Ông có tiếng chính trực, tháo vát, về sau làm đến Chỉ huy sứ Cẩm y thị vệ.

Có lần ông được sung vào phái đoàn đi sứ nhà Minh, biểu diễn tài đấu vật. Ông áp đảo các tay đô vật Trung Quốc, khiến vua Minh khen ngợi gọi ông là “Lý Tôn Hiếu An Nam” (Lý Tôn Hiếu, danh tướng nhà Đường, tướng người nhỏ bé nhưng sức mạnh và giỏi võ nghệ, dẹp tan nhóm Hoàng Sào).

21. Danh thần Bùi Thế Vinh

Danh thần Bùi Thế Vinh nhà Hậu Lê (Mạc), vốn là ngoại tổ 7 đời của danh sĩ Tùng Niên Phạm Đình Hổ, quê ở làng An Hoa, huyện Quảng Đức, tỉnh Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Thuận, thành phố Hà Nội. Sau cư trú ở làng Đan Loan, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương, nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Năm Canh Thìn (1580), Diên Thành 3 đời Mạc Hợp, ông đỗ tiến sĩ lúc 26 tuổi, được bổ làm Tự khanh.

Sau khi nhà Mạc bị tiêu diệt, ông lui về quê. Nhà Lê cho vời ông và Đỗ Uông tục gọi là Thượng Thông và Nhữ Công Tụng tức Thượng Nhữ ra làm quan. Đỗ và Nhữ vâng theo, riêng ông lấy dao rạch đầu gối cáo bệnh không ra.
Bấy giờ, lại có bà Thường quốc phu nhân thắt cổ tuẫn tiết. Dân gian có lời ngợi khen ông và bà ấy: “Con dao Đan Loan, dây thừng Phu nhân”.

22. Danh thần Vũ Công Đạo

Danh thần Vũ Công Đạo đời Lê Thần Tông (黎神宗; 1607 - 1662), sinh năm Kỷ Tỵ (1629), quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Ông thuở trẻ nổi tiếng là trang anh tuấn, học vấn uyên thâm. Năm Kỷ Hợi (1659), ông đỗ tiến sĩ, làm Đô ngự sử, kiêm việc giảng sách ở trong điện, từng đi sứ Trung Quốc. Một lần vì việc hạch tội Võ Duy Đoán và đám nội thần lộng hành mà vua chúa không nghe, ông đập đầu vào cột giữa triều đình tỏ rõ phong độ một vị ngự sử chân chính. Ông bị bãi chức về nhà, nhưng không lâu lại được triệu ra làm Thị lang bộ Lễ, tước Tử. Sau thăng Thượng thư bộ Công, rồi về hưu, mở trường dạy học ở quê nhà.

Năm Giáp Ngọ (1714), ông mất, thọ 85 tuổi, được truy tặng Thượng thư bộ Lễ, tước An Phú Hầu.

Em ông là tiến sĩ Võ Công Lượng cũng là người có danh tiếng. Trường học của ông cũng đào tạo được nhiều nhân tài như Bảng nhãn Phạm Quang Trạch ở Đông Ngạn (Bắc Ninh), Thám hoa Võ Thạnh ở Đan Loan, Khôi nguyên Nguyễn Danh Dự ở Dương Liễu (Sơn Tây).

23. Văn thần Lại Kim Bảng

Văn thần Lại Kim Bảng đời Lê Chiêu Tông (黎昭宗; 1506-1526), không rõ năm sinh, năm mất. Quê xã Kim Lan, hạt Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (nay là làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương).

Năm Mậu Dần (1518) niên hiệu Quang Thiệu 3, ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ, nổi tiếng thơ văn và là người có khí tiết, đương thời được mọi người kính trọng.
Làm quan đến Giám sát ngự sử. Khi Mạc Đăng Dung (莫登庸) đảo chính chiếm quyền, ông công khai chống đối. Việc không thành, ông gieo mình xuống song Tức Mực tự tử.

Sau, nhà Lê Trung Hưng, ông được biểu dương tiết nghĩa, được gia tặng là Tả thị lang bộ Lễ, và truy phong làm Phúc thần.

24. Nhân sĩ Phạm Hội

Nhân sĩ Phạm Hội đời Gia Long, hiệu Dưỡng Am (không rõ năm sinh, năm mất) quê ở làng Đường An, tỉnh Hải Dương nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ cử nhân, nổi tiếng thơ văn và có khí tiết, được sĩ phu trọng vọng, làm giáo thụ phủ Anh Sơn, ít lâu sau, ông xin nghỉ, về quê sống cuộc đời ẩn dật. Ông vốn là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích

25. Danh thần Châu Tông Tranh

Châu Tông Tranh là danh thần đời Trần Nghệ Tông (1321-1394) không rõ năm sinh, năm mất, quê ở Hồng Châu, tỉnh Hải Dương. Ông tài kiêm văn võ, thống lĩnh Tam tướng cấm binh, được Hồ Quý Ly rất tin cậy.
Nơi ông ở dân chúng tụ họp đông đúc, phồn thịnh, về sau mới nhận lấy theo họ ông mà gọi nơi ấy là thôn Châu Xá. Dần dần nhân dân đến càng nhiều, mới biệt lập làm một xã, gọi là xã Châu Khê, nay là vùng đất thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

26. Danh sĩ Lê Thiếu Dĩnh

Danh sĩ Lê Thiếu Dĩnh đời Lê Thái Tổ (黎太祖; 1428 -1433), không rõ năm sinh, năm mất, tự là Tử Kỳ, hiệu là Tiết Trai, quê ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An, trấn Hải Dương, nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Khi quân Minh sang xâm chiếm nước ta, cha của ông là Lê Cảnh Tuân và anh trai là Lê Thái Điệp bị bắt về Trung Quốc. Ông cùng với em là Lê Thúc Hiển vào Lam Sơn theo Lê Lợi khởi nghĩa chống giặc. Kháng chiến thành công ông được bổ làm Thẩm hình viện sự, sau đó được thăng Hàn Lâm thị chế. Năm sau đi sứ nhà Minh Trung Quốc, ông bị vua Minh giữ lại một thời gian mới cho về. Nhân dịp ấy, ông đi tìm nơi cha ông cư ngụ, nhưng không được.

Vua Lê rất trọng vọng ông, nhân việc can gián vua Lê, ông bị giáng chức làm Viên ngoại lang. Ít lâu sau, ông cáo quan về hưu ở quê nhà.

Ông là tác giả của bài Tiết Trai thi tập được đời truyền tụng và một số bài in trong Hoàng Việt thi tuyểnvà Toàn Việt thi lục. Phan Huy Chú có trích mấy bài thơ của ông vào sách mình (PHC) như bài Đăng Lễ Để sơn, Sơn tự... và khen rằng thơ “Lê Thiếu Đĩnh giản dị, cổ kinh, dễ ưa... lời và ý sâu xa, nói lên được ý thú ở ngoài lời thơ”.

27. Danh nhân Lê Cảnh Tuân

Lê Cảnh Tuân - 黎景詢 không rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng thời gian cuối đời Trần, trải qua đời Hồ và đầu thời Minh thuộc. Ông là thân phụ của tướng Lê Thiếu Dĩnh, nội tổ của Trạng nguyên Lê Nại và Hoàng giáp Lê Tư, tằng tổ của Hoàng giáp Lê Quang Bí. Lê Cảnh Tuân là chí sĩ yêu nước, ông được Phan Huy Chú trân trọng xếp vào danh sách 7 người bề tôi tiết nghĩa đời Trần trong quyển Lịch triều hiến chương loại chí; Đại Nam nhất thống chí thì liệt ông vào 13 nhân vật lịch sử nổi tiếng của tỉnh Hải Dương dưới thời Trần. Tên ông hiện được đặt cho một con đường ở quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Lê Cảnh Tuân tự là Tử Mưu - 字謀, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, trấn Hải Dương xưa; nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Theo Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Cảnh Tuân đậu cử nhân khoảng niên hiệu Xương Phù - 昌符 (1377 - 1388) đời Trần Phế Đế; còn theo Đại Nam nhất thống chí thì ông đậu Thái học sinh đời Trần. Theo tác giả Nguyễn Quang Thắng trong quyển Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam, Lê Cảnh Tuân đỗ Thái học sinh đời Hồ Quý Ly trong khoảng thời gian 1400 - 1402. Ông được xem là người khai khoa của làng Mộ Trạch. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ông mất năm 1416.

28. Danh sĩ Lê Nại

Lê Nại là Danh sĩ đời Lê Uy Mục (黎威穆; 1488 - 1509), dòng dõi Lê Cảnh Tuân đời Hậu Trần, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Thuở nhỏ, tuy nhà nghèo nhưng Lê Nại học rất giỏi, ông và em trai đều nổi tiếng thần đồng. Vừa học lại vừa dạy cho con em các nhà trong làng, ông vẫn cần mẫn, tiếng tăm hay chữ nhất vùng.

Năm Ất Sửu 1505, 26 tuổi ông đỗ Trạng nguyên. Quan Thượng Thư Vũ Quỳnh, người cùng làng mến tài, gả con gái cho, lại cho sang ở rể để tiện bề tra cứu sách vở, học hành trong thư phòng của quan, năm Đoan Khánh thứ nhất Từ thi Hương đến thi Đình, ông đều đỗ đầu, được bổ làm Giảng quan ở Quốc tử giám.

Khi làm quan, lúc dạy học đều được các môn sinh trọng vọng và các sĩ phu đương thời nể vì. Làm quan đến Tả thị lang bộ Hộ, tước Đạo Trạch Bá.

29. Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên

Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên, Thái phi của Chúa Trịnh Cương, tên Vũ Thị Tông, thụy là Từ Đức, húy là Ngọc Nguyên.

Thái phi sinh ngày 21 tháng 3 năm 1688 (Mậu Thìn), mất ngày 21 tháng 9 (âm lịch - năm 1751, Tân Mùi), thọ 63 tuổi. Bà lấy Chúa Trịnh Cương năm 1706 (tức là lúc đó Bà 18 tuổi), khi ấy Trịnh Cương đang giữ chức Khâm Sai Tiết Chế các xứ, Thủy Bộ chư Dinh, kiêm Tổng Quốc Chính, hàm Thái Úy Phổ Quốc Công, Kinh Quốc Phủ.

Thái phi Vũ Thị Ngọc Nguyên sinh thời là một trong những Bà Chúa thông minh, mưu lược, tài năng xuất chúng. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã nhận định: “Vũ Thị cũng là một người anh kiệt trong phái phụ nữ, cho nên mới có thể mấy lần định được kế mưu lớn.”Bà đã từng nhiếp, điều khiển chính sự để thay đổi chúa, lập vua; điều binh khiển tướng bảo vệ Kinh thành Thăng long khi nguy cấp.

Với công lao và đức độ, Bà được vua Lê Ý Tông tôn phong danh hiệu cao quý: Ý công Hậu đức Trang hạnh Đoan nghi Khuông vận Diễn phúc Quốc Thánh mẫu. Đây là một tôn hiệu cao quý. Trong lịch sử phong kiến, có đến hàng trăm, hàng nghìn hậu phi của vua chúa, nhưng được phong Quốc Thánh Mẫu thì không phải là nhiều. Theo sách Lịch Triều hiến chương loại chí, lịch sử phong kiến cũng chỉ nhắc đến 4 người được phong tôn hiệu cao quý này.

30. Danh sĩ Phạm Đình Dục

Danh sĩ Phạm Đình Dục đời Thiệu Trị (紹治; 1807–1847), tự Mộng Phủng, hiệu Loát Trúc Đạo Nhân, Văn Sử Thị, quê ở làng Đan Loan, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nay là xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, dòng dõi học giả Phạm Đình Hổ, (không rõ năm sinh, năm mất).

Thuở nhỏ, ông học ở quê, thi Hương nhiều lần nhưng chỉ thi đỗ Tú tài. Sau đó, ông chán khoa cử không thi nữa đến năm 1886 được bổ làm Huấn đạo huyện Chân Định (tức Kiến Xương) tỉnh Thái Bình.

Ông là tác giả nhiều sách, nhưng nay đã thất lạc chỉ còn bộ Vân Nang tiểu sử.
Theo bài tựa thì vào năm 1886, Phạm Đình Dục có gặp Nguyễn Thượng Hiền; Nguyễn Thượng Hiền đưa cho ông xem sách Hát Đông thư dị và khuyến khích ông nên chú ý viết sách. Sau đó ít lâu, Phạm Đình Dục được bổ làm huấn đạo huyện Chân Định (tức huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình ngày nay) làm sách này trong thời gian ấy.

31. Danh sĩ Phạm Quý Thích

Danh sĩ Phạm Quý Thích (范貴適) cuối đời Hậu Lê - đầu đời Nguyễn, tự Dữ Đạo, hiệu Lập Trai, biệt hiệu Thảo Đường cư sĩ, sinh ngày 25-12-1760 (19-10-1760 âm lịch), quê ở xã Hoa Đường, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương, nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Sau ngụ ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long, thành phố Hà Nội.
Năm Kỷ Hợi (1779), ông đỗ tiến sĩ làm Thiêm sai tri công phiên. Khi nghĩa quân Tây Sơn ra Bắc, ông trốn lánh. Đầu đời Gia Long (1802) vời ông ra, ông từ chối không được, giữ chức Thị trung học sĩ, tước Thích An Hầu trông coi việc chép sử (1811). Ít lâu sau, ông cáo quan về quê. Đầu đời Minh Mạng (明命; 1802-1841),lại vời ông ra, nhưng ông đang bệnh, lấy cớ ấy từ chối. Từ đó, ông chăm lo việc dạy học ở quê nhà, đào tạo được nhiều trí thức như Nguyễn Văn Lữ, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan...

Ngày 16-5-1825 (29-3-1825 âm lịch), ông mất, hưởng thọ 65 tuổi.
Các tác phẩm chính của ông gồm: Thảo Đường thi nguyên tập, Lập Trai tiên sinh di thi tục tập, Thiên Nam Long thủ liệt truyện.

Ông là bạn thân của nhà thơ lớn Nguyễn Du, chính ông là người đầu tiên đem truyện Kiều ra bình phẩm với học trò và làm bài thơ Đề vịnh truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh đề từ) rồi lo việc ấn hành.

32. Danh sĩ Vũ Tông Phan

Danh sĩ, Nhà giáo dục Vũ Tông Phan (武宗璠) còn gọi là Võ Tông Phan, đời nhà Nguyễn, tự Hoán Phủ, hiệu Lỗ Am, Đường Xuyên sinh năm Canh Thân (1800), học trò danh sĩ Phạm Quý Thích, bạn Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu... tại trường Tự Tháp; tục gọi là Nghè Tự Tháp (vì ông xin cáo lão về trú ở thôn Tự Tháp, phủ Báo Thiên, huyện Thọ Xương, Hà Nội – nay thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội – để dạy học). Nguyên quán làng Hoa Đường, huyện Đường An sau đổi là làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Năm Ất Dậu (1825), ông đỗ cử nhân, năm sau (1926) đỗ Tiến sĩ, được bổ làm việc ở Viện Hàn lâm (Huế) năm 1827 thăng tri phủ Bình Hoà (Khánh Hoà) Lang trung Bộ Binh, duyệt quyển thi Đình (1829).

Năm 1830, làm tham hiệp Tuyên Quang, Thái Nguyên. Năm 1832, giữ chức Đốc học tỉnh Bắc Ninh, đến năm 1838, được về trí sĩ, ngồi dạy học ở quê nhà (Tự Tháp). Ông đào tạo được nhiều nhân tài như Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, Hoàng giáp Lê Đình Diên, Cử nhân Nguyễn Huy Đức, Ngô Văn Đặng. Về sau triều đình vời ông ra, ông từ chối, được nhà vua ban bốn chữ “Đào thục hậu tiến”.
Năm Tân Hợi (1851), ông mất, thọ 51 tuổi. Ông là người đã góp công rất lớn cho việc chấn hưng nền văn hoá Thăng Long giữa thế kỷ XIX.

33. Lê Quang Bí

Lê Quang Bí còn gọi là Lê Quang Bôn (vì chữ Bí cũng đọc là Bôn, nên có sách chép là Lê Quang Bôn), Văn thần nhà Hậu Lê (Mạc), tự Thuần Phu, hiệu Hối Trai. Dòng dõi Lê Cảnh Tuân, con Lê Nại, cháu Lê Đỉnh, cháu ngoại Võ Quỳnh, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương nay là xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Lê Quang Bí sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho học. Năm 27 tuổi, Lê Nại đã đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ - đệ nhất danh Trạng nguyên trong khoa thi lấy đỗ 55 tiến sĩ ở khoa thi Ất Sửu, niên hiệu Đoan Khánh 1 (1505) đời Lê Uy Mục. Lê Nại thi cả năm trường đều đỗ thủ khoa, sau làm đến chức Hữu thị lang bộ Hộ. Khi Lê Nại mất còn được truy tặng tước Đạo Trạch Bá. Năm Bính Tuất 1526 ông đỗ nhị giáp tiến sĩ (hoàng giáp) 22 tuổi, đời Lê Cung  Hoàng (黎恭皇; 1507-1527). Nhưng năm sau (1527), Mạc Đăng Dung (莫登庸) đảo chính, ông thành bề tôi nhà Mạc, làm Tả thị lang bộ Hộ.

Năm Mậu Thân 1548, ông đi sứ nhà Minh, bị vua Minh giữ lại không cho về. Suốt 18 năm bị đày ở Trung Quốc, ông vẫn giữ tiết tháo, không quị lụy khiến đám quan lại nhà Minh phải cảm phục tài đức. Vì thế ông được về nước.
Năm Bính Dần 1566, ông về đến nước nhà tóc đã bạc phơ (62 tuổi) khiến cả triều đình đều cảm động, Mạc Mậu Hợp phong ông làm Thượng thư bộ Hộ, tước Mộ Xuyên Hầu. Sau khi mất được truy tặng Thiếu bảo tước Tô Quận Công. Ông là tác giả sách Tư hương vận lục, trong đó có nhiều thơ vịnh sử, về các nhân vật trong thân tộc như: Lê Cảnh Tuân, Lê Nại...

Lê Quang Bí còn sáng tác tập thơ “Tô Công Phụng sứ”, gồm 24 bài thơ Đường luật, thuật lại chuyện Tô Vũ đời nhà Hán đi sứ sang Hung Nô, để gửi gắm tâm sự của mình.

34. Danh sĩ Phạm Đình Hổ

Danh sĩ, tác giả Phạm Đình Hổ đời Minh Mạng (明命; 1820-1841), tự Tùng Niên, Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Triều. Ông là con quan Tham tri Phạm Đình Dư, nên tục gọi là Chiêu Hổ, quê ở xã Đan Loan, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương, nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Ông nổi tiếng đọc nhiều biết rộng, nhưng thi không đỗ, lại gặp thời loạn lạc nên muốn ở ẩn. Năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng vời ông ra và bổ làm Hành tẩu viện Hàn lâm, ít lâu sau, ông xin từ chức.

Năm Bính Tuất (1826), Minh Mạng lại triệu và cho ông làm Thừa chỉ Viện Hàn lâm và Tế tửu Quốc tử giám (như giáo sư Đại học), nhưng năm sau, ông mắc bệnh, xin nghỉ dưỡng bệnh. Sau đó, ông trở lại nhận chức vụ cũ, được thăng Thị giảng học sĩ, đến Nhâm Thìn (1832) ông về hưu luôn.
Năm Kỷ Hợi (1839), ông mất, hưởng thọ 71 tuổi (Năm sinh, năm mất có sách chép 1770-1841, cũng thọ 71 tuổi). Bình sinh ông cùng Hồ Xuân Hương thường làm thơ qua lại, còn truyền làm giai thoại.

35. Nhà văn hóa Phạm Quỳnh

Phạm Quỳnh là nhà văn, tác giả, hiệu là Thượng Chi, Hồng Nhân, sinh ngày 17-12-1892, tại Hà Nội, quê ở làng Thượng Hồng, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Năm 1908, ông tốt nghiệp trường Thông ngôn được bổ vào làm tại trường Viễn Đông Bác cổ Hà Nội. Ông có tài, học rộng, nhưng lại cộng tác chặt chẽ với thực dân Pháp về văn học và chính trị. Do đó, năm 1917 ông được Louis Marty (Giám đốc chính trị kiêm trưởng mật thám Đông Dương) cho ra tờ tạp chí Nam Phong, ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, tạp chí này là cơ quan tuyên truyền chính trị cho Pháp tại Đông Dương.

Năm 1932, ông được Pháp cử giữ chức Ngự tiền văn phòng vua Bảo Đại, rồi làm Thượng thư bộ Học, bộ Lại. Đường công danh của ông lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân.

Ông sáng tác văn học khá nhiều, đủ thể loại; nhất là nghiên cứu và dịch thuật. Hầu hết tác phẩm của ông đều đăng trên tạp chí Nam Phong, sau được in lại trong bộ Nam Phong tùng thư và Thượng Chi văn tập (hơn ngàn trang).
Đương thời, ông từng bị các nhà yêu nước, nhà văn hoá chân chính (Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi) lên án về việc ông tán dương truyện Kiều với ý đồ đen tối và có tính cách thậm xưng.

Ngày 23-8-1945, ông bị các lực lượng cách mạng bắt ở Huế, rồi sau đó bị xử bắn ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên, hưởng dương 53 tuổi.

36. Nhà thơ Vũ Đình Liên

Nhà thơ Vũ Đình Liên giáo sư sinh ngày 12-11-1913 tại Hà Nội, quê làng Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Thuở nhỏ ông học tại Trường Tiểu học Hàng Vôi, Trường Bưởi, Trường Đại học luật (Hà Nội), dạy tại trường trung học Thăng Long.

Thời gian dạy học ông cộng tác với các báo Phong Hoá, Phụ nữ thời đàm, Thanh nghị, Loa, Tinh Hoa, có lúc Quản lý báo Tinh Hoa, chủ trương Revue Pédagogique, rồi làm Tham tá Thương chánh tại Hà Nội đến năm 1945.
Sau năm 1946, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, năm 1954 về Hà Nội dạy tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Ngày 18-1-1996, ông mất tại Hà Nội, thọ 83 tuổi.

37. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận

Đỗ Nhuận là nhạc sĩ hiện đại, quê huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Thuở nhỏ học Trung học ở Hà Nội, tự học âm nhạc, tác giả nhiều ca khúc giá trị.
Ông tham gia hoạt động cho Mặt trận Việt Minh từ trước Cách mạng tháng Tám. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến ông gia nhập quân đội, làm công tác văn nghệ. Trong thời gian này ông sáng tác nhiều bài ca kháng chiến khơi dậy lòng yêu nước cũng như căm thù giặc Pháp xâm lược nơi quần chúng văn nghệ.
Sau năm 1954, ông về công tác tại Hà Nội, từng giữ chức Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam.

Trong hành trình sáng tác của mình, Đỗ Nhuận là tác giả hơn 100 ca khúc giá trị, tiêu biểu là các ca khúc:Du kích sông Thao, Việt Nam quê hương tôi..., nhất là bài Chiến thắng Điện Biên đã gây nên một cảm xúc mãnh liệt nơi những người yêu nhạc và nó trở thành đài hiệu của Tiếng nói Việt Nam hiện đại.
Ông được Nhà nước Việt Nam tặng nhiều huân chương cao quý.

38. Nhà văn Vũ Bằng

Nhà văn, Nhà báo Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng sinh ngày 3-6 năm Quý Sửu (1913), bút hiệu Tiêu Liêu, Lê Tâm, Vũ Tường Khanh, Hoàng Thị Trâm, Vũ Bằng. Nguyên quán làng Lương Ngọc, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương sinh ra và lớn lên ở Hà Nội.

Ông xuất thân trong một gia đình Nho học có tiếng ở Hải Dương. Thuở nhỏ học tại Trường Albert Sarraut, đang theo học năm cuối ban Tú tài, ông bỏ học dấn thân vào con đường làm báo.

Từ những năm 1926-1930, ông cộng tác với các báo: Đông Tây, Ngọ báo, Tiểu thuyết thứ bảy, Ngày Mai, Trung Bắc tân văn... (Hà Nội) và một số ở Sài Gòn. Từng làm chủ nhiệm, chủ bút nhiều báo có tiếng ở Hà Nội trong những năm trước thế chiến II. Ông là một cây bút sung sức về nhiều lĩnh vực: sáng tác, nghiên cứu, dịch thuật rất sáng giá. Ở từng bộ môn, ngòi bút ông luôn luôn thuyết phục được tình cảm độc giả của nhiều thế hệ.

Kể từ ngày bước vào làng báo (1928-1929) đến những năm cuối đời, số lượng trang viết của ông đến hàng vạn. Có thể nói suốt đời ông chuyên tâm vào việc làm báo, và việc viết báo đối với ông như là một lẽ sống. Trong một cuốn sách viết về nghề làm báo, ông tâm sự với mẹ mình: “Nếu trở lại làm người, con cứ lại xin làm báo!”

Trong kháng chiến chống Pháp, ông tản cư ra vùng tự do cùng làm báo với Thượng Sĩ, Đặng Thai Mai... năm 1950 hồi cư về Hà Nội tiếp tục làm báo.
Sau Hiệp định Genève 1954, ông di cư vào Sài Gòn và vẫn sống với nghề cũ, cộng tác với các báo: Lửa sống, Quê hương, Dân chúng, Tiếng chuông, Sài Gòn mới, Báo mới, Tin điện, Vịt vịt... cho đến năm 1975.

Sau ngày thống nhất đất nước, ông “rửa tay gác kiếm”, sống nghèo tại Khánh Hội - Sài Gòn. Theo một số bài báo gần đây, ông là người hoạt động nội thành trong ngành Quân báo QĐND Việt Nam.

Ngày 7-4 năm Giáp Tý (1984), ông mất tại Sài Gòn, thọ 70 tuổi, thi hài được hoả táng tại An Dưỡng địa Phú Lâm.

39. Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ

Nhà nghiên cứu văn học, giáo sư trung học Phạm Thế Ngũ, sinh ngày 12-6-1921 tại làng Ngọc Chi, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; sau năm 1954 sống và dạy ở Nha Trang, Cần Thơ và Sài Gòn đến cuối đời.

Thuở nhỏ, ông học tiểu học ở Hải Dương sau lên Hà Nội học tại Trường Chu Văn An (Bưởi), tốt nghiệp cử nhân văn khoa tại Đại học Văn khoa Hà Nội năm 1953. Sau hiệp định Genève, ông di cư vào Nam dạy học tại các trường Trung học Võ Tánh (Nha Trang), Phan Thanh Giản (Cần Thơ). Từ năm 1958, ông chuyển về dạy tại trường Trung học Pétrus Ký. Sài Gòn (nay là trường Lê Hồng Phong, thành phố Hồ Chí Minh).

Ngoài là một nhà giáo, ông còn là một nhà nghiên cứu văn học đầy chủ quan. Bộ sách giá trị nhất của ông có tên Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập - Quốc học tùng thư xuất bản 1961-1965) nói về sự diễn tiến của Văn học Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại (1945).

Với một cái nhìn tổng thể, tác giả đã vẽ lại khá chi tiết đường đi của văn học nước nhà từ văn chương truyền khẩu cho đến văn chương bác học (kể cả văn học lịch triều và hiện đại). Tuy tác giả đã phác thảo được một diện mạo tương đối đầy đủ của văn học dân tộc, nhưng vẫn còn một số hạn chế nghiêm trọng; nhất là xem nhẹ, nếu không muốn nói là xem khinh mảng văn học miền Nam (Đàng Trong), vì ông cho rằng thơ ở Đàng Trong chỉ là một thứ “Vãn vè” xem “Trương Vĩnh Ký chẳng qua chỉ là một nhà làm sách giáo khoa thường cho con nít học” như cách đánh giá của Phạm Quỳnh.

Về phần văn học Quốc ngữ, ông đã không hết lời ca tụng Phạm Quỳnh là “ông tổ” của văn học Quốc ngữ. Còn vụ tranh luận Truyện Kiều giữa Ngô Đức Kế, Phạm Quỳnh, ông cho đó chỉ là “sự xích mích với ông nghè Ngô” chứ không phải là một cuộc tranh luận văn chương có ảnh hưởng sâu xa đến lịch sử văn học Việt Nam! Thật là một sự thiếu nhất quán của một não trạng hẹp hòi trong nghiên cứu văn học. Ngày 9-5-2000, ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 79 tuổi.

40. Chính trị gia Vũ Oanh

Vũ Oanh, tên thật là Vũ Duy Trương (hoặc Chương), sinh ngày 16 tháng 9 năm 1924, quê tại xã Vĩnh Tuy, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Mẹ ông gốc nhà khá giả, được gả cho cha ông vốn là một tá điền trong vùng, sinh nở 14 lần nhưng chỉ nuôi được 7 người con.

Từ năm 1941, ông tham gia Việt Minh, hoạt động trong Đoàn Thanh niên Cứu quốc. Tháng 3 năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, ông là Bí thư chi bộ thanh niên cứu quốc của Thành ủy Hà Nội. Cuối tháng 7 năm 1945, ông được Xứ ủy Bắc Kỳ chỉ định làm trưởng đoàn đại biểu Hà Nội đi dự Đại hội Quốc dân Tân Trào. 

Tổng khởi nghĩa nổ ra, ông được cử làm Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh thành Hoàng Diệu, phụ trách khối tự vệ thanh niên Hà Nội.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông (1946), sau đó đổi sang làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam (1947). Năm 1948, ông được bổ nhiệm làm Chánh văn phòng Quân ủy Trung ương khi mới 24 tuổi.
Sau đó, ông lần lượt giữ các chức vụ Ủy viên Liên khu ủy Khu 3, Phó chính ủy Đại đoàn Đồng bằng, Cục trưởng Cục Địch vận, Phó trưởng ban Ban Tổ chức Trung ương. Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV và trở thành Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa V, VI, VII; được bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI, VII và Ủy viên Bộ Chính trị khóa VII, giữ các chức vụ Trưởng Ban Dân vận Trung ương, Trưởng Ban Nông nghiệp, Trưởng Ban Kinh tế. Ông cũng là Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách của Quốc hội (1987-1989)

Khi nghỉ hưu, ông được cử làm Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam, Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng Việt Nam

41. Nhạc sĩ Phạm Tuyên

Nhạc sĩ Phạm Tuyên sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, quê ở thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, Hải Hưng (nay là Hải Dương).
Năm 1949, ông công tác tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa V. Năm 1950, là Đại đội trưởng tại Trường Thiếu sinh quân Việt Nam. Trong thời gian này, ông đã có những chùm ca khúc về Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, về Thiếu sinh quân Việt Nam.

Năm 1954, ông được cử làm cán bộ phụ trách Văn-Thể-Mỹ tại Khu học xá Trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc). Từ năm 1958, ông về nước, công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ đạo về biên tập âm nhạc. Từ đó cho đến năm 1975, ông đã sáng tác nhiều bài hát được nhiều người biết như Bài ca người thợ rừng, Bài ca người thợ mỏ, hợp xướng Miền Nam anh dũng và bất khuất, Bám biển quê hương, Yêu biết mấy những con đường, Chiếc gậy Trường Sơn, Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Từ làng Sen, Đêm trên Cha Lo, Từ một ngã tư đường phố.

Bài Như có Bác trong ngày đại thắng được ông sáng tác đêm ngày 28 tháng 4 năm 1975, tập và thu âm ngay trong chiều ngày 30 tháng 4 để phát sóng trong bản tin thời sự đặc biệt 17 giờ cùng ngày của Đài tiếng nói Việt Nam chính thức công bố tin giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Sau 1975, ông có những ca khúc phổ biến như: Gửi nắng cho em, Con kênh ta đào, Màu cờ tôi yêu (thơ Diệp Minh Tuyền), Thành phố mười mùa hoa (1985, thơ Lệ Bình,...).

Ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do được ông sáng tác ngay trong đêm của ngày nổ ra cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979. Ca khúc này đã mở đầu cho trào lưu cho dòng nhạc "biên giới phía Bắc" nhưng không còn được lưu hành kể từ khi quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc được cải thiện. 
Ông có sáng tác nhiều cho lớp trẻ. Nhiều bài hát thiếu nhi đã trở thành bài truyền thống qua nhiều thế hệ như: Tiến lên đoàn viên, Chiếc đèn ông sao, Hành khúc Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Hát dưới cờ Hà Nội, Gặp nhau giữa trời thu Hà Nội, Đêm pháo hoa, Cô và mẹ,...

Ông còn viết nhiều bài cho tạp chí, Đài phát thanh và truyền hình giới thiệu về thẩm mỹ âm nhạc, về tác giả và tác phẩm, là người đề xướng và chỉ đạo nhiều cuộc thi mang tính chất toàn quốc như Tiếng hát hoa phượng đỏ, Liên hoan Văn nghệ truyền hình toàn quốc, nhiều năm là Chủ tịch Hội đồng giám khảo của nhiều Hội diễn toàn quốc về văn hoá - văn nghệ của Bộ Văn hóa Thông tin và nhiều ngành khác trong nước.

Ông là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Hội nhạc sĩ Việt Nam từ năm 1963 đến năm 1983.

Năm 2001, nhạc sĩ Phạm Tuyên được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho cụm 5 tác phẩm: Đảng đã cho ta một mùa xuân, Bám biển quê hương, Chiếc gậy Trường Sơn, Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Như có Bác trong ngày đại thắng. Năm 2005, Phạm Tuyên được đề cử giải thưởng Hồ Chí Minh nhưng không đạt vì ông chưa có cụm công trình nào xuất sắc hơn cụm công trình đã được Giải thưởng Nhà nước.

Năm 2012, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm Những ngôi sao ca đêm, Từ Làng Sen, Đêm trên Cha Lo, Tiến lên Đoàn viên, Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng.

42. Anh hùng lao động Vũ Tất Ban

Ông Vũ Tất Ban, quê My Thữ, Vĩnh Hồng, Bình Giang, Hải Dương. Từ người công nhân Ông đã phấn đấu không ngừng trong công tác để trở thành Anh hùng lao động.

Ông đã từng giữ những chức vụ như: Chủ tịch Công đoàn Xây dựng Việt Nam; Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam khóa VI (1998), VII (1993); Đại biểu Quốc hội khóa IV (1971) và khóa V (1975).

Hiện nay, Ông là Trưởng ban liên lạc hưu trí Bộ Xây dựng.

43. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân

Đỗ Hồng Quân sinh ngày 1/8/1956 quê thôn Hoạch Trạch, xã Thái Học, huyện Cẩm Bình, Hải Dương, là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 11, thuộc đoàn đại biểu Hà Tây. . Ông là chủ nhiệm hội nhạc sĩ Việt Nam, chồng của NSƯT Chiều Xuân, con của cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận.

Ông được nhắc đến là nhạc sĩ cho những nhạc phim kinh điển của điện ảnh Việt Nam như: Mùi cỏ cháy, bến không chồng, người yêu đi lấy chồng, cuốc xe đêm, những người thợ xẻ... và từng được cánh diều vàng cho nhạc phim xuất sắc nhất.

Trịnh Vũ Anh Xuân (sưu tầm)

Đánh giá bài viết này
(0 đánh giá)

Thông điệp từ BQT

Website đã liên tục cập nhập thêm nhiều nội dung mới, nhất là các bài viết, hình ảnh, video và tài liệu. Đề nghị mọi người có hình ảnh, video và tài liệu có thể chia sẻ được gửi cho Ban Biên tập Website để chia sẻ đến mọi người.

Email: bachuame@gmail.com

Trân trọng cám ơn!

Lượt truy cập

539888
Hôm nay
Hôm qua
Trong tuần
Tuần trước
Trong tháng
Tháng trước
Tổng
116
2059
8764
518463
39269
51470
539888
Your IP: 54.156.69.204
2017-09-23 01:47

Liên kết

Hình ảnh hoạt động