Dự kiến các ban thờ và các nhân vật được thờ trong Đền Quốc Thánh Mẫu

29 06 2017
170 lượt xem

Theo tư vấn thiết kế của các chuyên gia lịch sử, văn hóa và tâm linh; trên cơ sở tham khảo việc thờ tự tại nhiều đền thờ, thờ các vị thánh nhân; qua ý kiến của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa tại phiên họp với lãnh đạo UBND huyện Bình Giang, UBND xã Vĩnh Hồng ngày 1/7/2017 tại UBND xã Vĩnh Hồng, dự kiến  trong Đền thờ Quốc Thánh Mẫu có 7 ban thờ, thờ các nhân vật như sau:

1. Ban thờ chính giữa Hậu cung (tượng thờ)

Thờ Quốc Thánh Mẫu - Thái phi, vợ Chúa Trịnh Cương (1686 - 1729): Bà là Vũ Thị Ngọc Nguyên, được tôn phong - Ý công Hậu đức Trang hạnh Đoan Nghi Khuông vận Diễn phúc Quốc Thánh mẫu. Bà mất ngày mất ngày 21 tháng 9 (âm lịch - năm 1751), thọ 63 tuổi (xem bài Bà Chúa Me tại đây). Thời Lê - Trịnh, Bà được thờ tại Thái Miếu cùng Chúa Trịnh Cương[1]. Hiện Bà cũng đang được thờ tại Đền thờ thôn Tổ Hỏa, xã Lý Thường Kiệt, Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Đền thờ được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh Hưng Yên (xem bài Thông tin thêm về Đền Bà Chúa tại thôn Tổ Hỏa, xã Lý Thường Kiệt, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên).

2. Ban thờ bên tay phải của Hậu cung (đặt bài vị)

Thờ bố mẹ của Bà Quốc Thánh Mẫu là cụ ông Vũ Phúc Lý (Vũ Tất Tố) và cụ bà Trịnh Thị Năm (Trịnh Thị Vinh)

Cụ ông được tấn phong Tuấn Lộc hầu, Tuấn (Duệ) Trạch Công; Đức quận công Trịnh Quý Công tự Phúc đức; truy phong Đặc tiến Thượng tướng quân Thái phó. Cụ ông mất ngày 23 tháng Năm, mộ tại thôn Tổ Hỏa, xã Lý Thường Kiệt, Hưng Yên. Cụ bà được truy phong Quận phu nhân; mất ngày 21 tháng Giêng[2]. Theo Lịch triều Hiến chương loại chí, từ Trung hưng trở về sau, các đời chúa Trịnh thờ cúng các tổ tiên bên ngoại, đều lập từ đường ở Kinh sư, gọi là đền ngoại phủ, hay là Phủ từ (phủ thờ). Do vậy, xưa ông bà đã có phủ thờ tại chợ Con Khỉ[3].

3. Ban thờ bên tay trái của Hậu cung (đặt bài vị)

Thờ em gái của Bà Quốc Thánh Mẫu là Vũ Thị Lưu (Sơ). Bà qui phật tại Chùa Kim Liên ngày 10 tháng 8 (không rõ năm), sau Trụ trì tại Chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh[4]; được phong tặng Viên không hoà thượng, gia phong Trung khiết hiếu hạnh, Trang tĩnh từ tuệ đại bồ tát, Bồ tát vương[5],[6]. Bà thọ 23 tuổi, lăng ở xứ Đồng Ngô, thôn Thanh Long xã Kim Hoạch (huyện Thủy Nguyên)

4. Ban thờ bên tay trái bên ngoài - gian Tiền tế: (tượng thờ)

Thờ ông Vũ Trạc (Vũ Đạc), là em của Bà Quốc Thánh Mẫu[7]; được phong các tước Phụ quốc thượng tướng quân, chỉ huy sứ Trạc Quận công và được ban Quốc tính mang họ Chúa là Trịnh Đạc. Ông mất ngày 14/7 (không rõ năm).

Về công lao, chức tước của Ông được sử sách ghi chép lại như sau:

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục[8] (trang 851) “Trịnh Doanh phong cho chú là Trịnh Đạc tước Doãn Trung công. Trước kia, Trịnh Doanh đi đánh giặc Ngân Già, người chú của Doanh là đại tư đồ quận công Trịnh Đạc ở nhà giữ kinh thành, đến nay bàn việc phong thưởng, bèn gia phong cho Đạc tước Doãn Trung công”.

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (trang 865), “Tên Tương, tướng giặc, cướp huyện Yên Sơn. Thống lãnh Đặng Đình Quỳnh bỏ binh lính, chạy trốn. Triều đình sai Trịnh Đạc tiến đánh, phá được giặc Tương.

Trước đây, tên Tương chiếm cứ xã Vĩnh Đồng, huyện Mĩ Lương, thường lấp ló ở quãng huyện Yên Sơn và Thạch Thất, triều đình không để ý đến. Đến nay Trịnh Doanh sai tổng binh đồng tri Đặng Đình Quỳnh làm thống lãnh, hiệu thư Phạm Gia Ninh làm tán lý, đem quân đi đánh. Đình Quỳnh xuất thân là con nhà chỉ biết ăn trắng mặt trơn, không biết mưu mô làm tướng, vì lấy quận chúa (con gái chúa Trịnh gọi là quận chúa), bổng trở nên sang. Khi phụng mạng đi đánh giặc, Quỳnh dắt cả quận chúa và tì thiếp cùng đi, đóng ở xã Sơn Lộ huyện Yên Sơn, dùng chợ làm đồn đóng quân, không xếp đặt điểm canh phòng gì cả. Gia Ninh cũng vào trú ở nhà dân. Khi giặc kéo đến xã Tiên Lữ, Gia Ninh được tin, đến chỗ Đình Quỳnh, thì Quỳnh đã dắt quận chúa và tì thiếp trốn đi từ trước rồi. Giặc ập đến bao vậy, Gia Ninh sa vào tay giặc, bị chết. Trịnh Doanh lại sai đại tư đồ Doãn trung công Trịnh Đạc làm thống lãnh đi đánh. Tương bỏ trốn”.

Theo Khâm định Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (trang 897), “Phong thêm thái ấp cho bầy tôi có công.

Trịnh Doanh nghĩ đến công lao bầy tôi giúp đỡ phò lập lên ngôi chúa, bèn phong thêm thái ấp cho họ, có người nhiều người ít khác nhau. Những người được phong là bọn Trịnh Đạc, Vũ Tất Thận, Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Đình Hoàn, Giáp Nguyễn Khoa, Vũ Đình Trác, Trương Khuông, Trịnh Trụ, Đinh Văn Giai và Nguyễn Công Thái, gồm 10 người”.

Theo cuốn Bình Tây thực lục, quyển II[9] (cuốn sách ghi chép việc khởi nghiệp của Chúa Trịnh Doanh từ 1740 cùng những cuộc bình định ở vùng Sơn Tây từ 1749 - 1751). Khi Chúa Trịnh Doanh bình định được vùng Sơn Tây, các quan văn võ có bài khải mừng, cụ thể:

“Bài khải mừng của các quan theo hầu (trang 54):

Các quan theo hầu là lũ Trịnh Đạc, Trịnh Thiết, Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Huy Nhuận, Đỗ Thế Giai, Đàm Xuân Vực, Nguyễn Công Thái, Trịnh Tân, Trịnh Kiều, Lê Khôi, Trần Cảnh, Lê Hữu Kiều kính cẩn dâng khải vì việc mừng dẹp yên giặc. Lũ thần ...”

“Bài khải của các quan văn võ mừng (trang 55):

Các chức văn võ là Trịnh Đạc, Trịnh Thiết, Nguyễn Gia Châu, Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Huy Nhuận, Đỗ Thế Giai, Đàm Xuân Vực, Phạm Đình Trọng, Đỗ Văn Giai … (tổng cộng 30 quan văn võ) cùng hai ban kính cẩn dâng tờ khải rằng: Nay vâng xe Chúa đi chinh phạt, oai thần vang xa, đám giặc ngang ngạnh lâu năm, một trấn dẹp yên, nức dậy, uy trời, vững yên thế nước. Lũ tôi khôn siết mừng vui chúc tụng, xin dâng khải mừng như sau: ……”

Như vậy, theo các cứ liệu lịch sử trên cho thấy Ông (Trịnh Đạc) là một trong những vị quan đầu triều lúc đó. Việc Ông được Chúa cử cầm quân dẹp loạn, chứng tỏ Ông là võ tướng giỏi thời đó.

5. Ban thờ bên tay phải gian ngoài - gian Tiền tế (tượng thờ)

Thờ ông Vũ Thiết (Vũ Tất Thận), là em của Bà Quốc Thánh Mẫu; được phong Súy Trung Dực vận Công thần, Đồng Tham tụng Trung Doanh khuôn quân doanh, Đô đốc phủ, chánh Đô đốc Thự phủ sự kiêm Tôn nhâm phủ Hữu Tôn chính, Đại tư đồ Bỉnh trung công, Đặc tiến Phụ quốc Thượng Tướng quân - Đại Tư Đồ Quốc lão Quận Công Đốc Khánh, vâng cho theo họ Trịnh là Trịnh Thiết. Ngày 25/7 năm Khải Định thứ 9 (1924), có Sắc tôn thần hộ quốc, hiện còn sắc phong đang lưu giữ tại nhà thờ họ Vũ.

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục[10] “Trịnh thái phi là Vũ Thị cho triệu Nguyễn Quý Cảnh, bồi tụng giữ chức hữu tư giảng, vào phủ, bảo Quý Cảnh khuyên Trịnh Doanh đứng ra thay Trịnh Giang để trừ hoạn nạn trong cung phủ. Lúc ấy Quý Cảnh đương có trọng tang ở nhà, bèn ngầm biên tiên hương binh2, dự chia thành từng bộ phận, rồi nhân lúc nhàn rỗi nói với Doanh, Doanh khóc và ngăn cản đi. Quý Cảnh đem việc ấy nói với bồi tụng Nguyễn Công Thái và thân thần là bọn Trịnh Đạc, Vũ Tất Thận, Nguyễn Đinh Hoàn, cùng tán thành cả”

“….Bàn luận công bầy tôi giúp rập (tức là giúp Trịnh Doanh nối ngôi chúa thay Trịnh Giang): cho Vũ Tất Thận được chữ hiệu "công thần", mũ và đai lưng được trang sức bằng vàng, theo thể lệ mũ và đai của vương thân;”[11]

Tại trang 841, sách Khâm định[12]Nguyễn Tuyển đánh phá huyện Đường Yên, bọn Vũ Tất Thận chống cự lại, nhưng không thắng được.

Hai đại tướng Bính quận công Vũ Tất Thận và Trình quận công Hoàng Công Kỳ đem quân đến xã Yên Nhân, ngần ngại không dám tiến. Nguyễn Tuyển bèn đốt phủ đệ và từ đường Mi Thữ, rồi tung quân ra cướp phá ồ ạt, thành ra dân ở vùng này làng xóm bị tiêu điều, biến dần ra rừng rậm”.

Tại trang 842, sách Khâm định[13] “Doanh sai các tướng là bọn Đinh Văn Giai, Nguyễn Đình Hoàn, Vũ Tất Thận và Trương Khuông đốc suất quân các doanh ra đánh. Trương Khuông đem quân cánh tả tiến sát đến chỗ đồi cỏ rậm rạp, phục binh của giặc thình lình nổi dậy, giết một tì tướng của Khuông. Trịnh Doanh nổi giận, thúc voi tiến lên, chỉ huy các quân góp sức lại đánh một trận lớn”.

Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục[14], “Nhâm Tuất, năm thứ 3 (1724). (Thanh, năm Càn Long thứ 7). Tháng giêng, mùa xuân. Hạ lệnh cho chưởng phủ Vũ Tất Thận và tham tụng Nguyễn Quý Cảnh chia nhau quản lĩnh hương binh ở các huyện gần kinh kỳ.

Vì chưa dẹp yên được bọn giặc cướp, các quân lính phải phân phối đi đánh phá càn quét, trong kinh vắng bóng binh lính. Các quan giữ chính quyền trong phủ xin tạm kén dân các huyện gần kinh kỳ, cứ 5 suất đinh kén lấy một người làm hương binh, tha dao dịch cho họ, duyệt tập theo như phép lính chính thức. Bèn hạ lệnh cho Tất Thận và Quý Cảnh chia nhau quản lãnh, phân phối hương binh đóng ở ngoài kinh thành, để phòng bị việc bắt trắc xảy ra”

Tại trang 869, sách Khâm định[15], “Tháng 7, mùa thu. Trịnh Doanh gia phong cho cậu là Vũ Tất Thận làm đại tư đồ, cho đổi họ tên là Trịnh Áo. Doanh nhận thấy Tất Thận, một người cậu ruột rất thân, nên ban cho họ và tên, để tỏ ra yêu quý khác thường”.

Tại trang 894, sách Khâm định[16], “Tháng 6, mùa hạ. Trịnh Doanh phong cho người ngoại thích là Vũ Tất  Thận làm đại tư đồ, Bính trung công; Nguyễn Mậu Du làm đại tư đồ, Luân trung công”.

Tại trang 897, sách Khâm định[17], “Phong thêm thái ấp cho bầy tôi có công.

Trịnh Doanh nghĩ đến công lao bầy tôi giúp đỡ phò lập lên ngôi chúa, bèn phong thêm thái ấp cho họ, có người nhiều người ít khác nhau. Những người được phong là bọn Trịnh Đạc, Vũ Tất Thận, Nguyễn Quý Cảnh, Nguyễn Đình Hoàn, Giáp Nguyễn Khoa, Vũ Đình Trác, Trương Khuông, Trịnh Trụ, Đinh Văn Giai và Nguyễn Công Thái, gồm 10 người”.

Tương tự như người anh Trịnh Đạc, Ông là người được nhắc tên thứ hai trong những bài khải mừng Chúa của các quan văn võ. Xem lại cuốn Bình Tây thực lục, quyển II[18], khi Chúa Trịnh Doanh bình định được vùng Sơn Tây, các quan văn võ có bài khải mừng:

“Bài khải mừng của các quan theo hầu (trang 54):

Các quan theo hầu là lũ Trịnh Đạc, Trịnh Thiết (Vũ Tất Thận), Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Huy Nhuận, Đỗ Thế Giai, Đàm Xuân Vực, Nguyễn Công Thái, Trịnh Tân, Trịnh Kiều, Lê Khôi, Trần Cảnh, Lê Hữu Kiều kính cẩn dâng khải vì việc mừng dẹp yên giặc. Lũ thần ...”

“Bài khải của các quan văn võ mừng (trang 55):

Các chức văn võ là Trịnh Đạc, Trịnh Thiết (Vũ Tất Thận), Nguyễn Gia Châu, Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Huy Nhuận, Đỗ Thế Giai, Đàm Xuân Vực, Phạm Đình Trọng, Đỗ Văn Giai … (tổng cộng 30 quan văn võ) cùng hai ban kính cẩn dâng tờ khải rằng: Nay vâng xe Chúa đi chinh phạt, oai thần vang xa, đám giặc ngang ngạnh lâu năm, một trấn dẹp yên, nức dậy, uy trời, vững yên thế nước. Lũ tôi khôn siết mừng vui chúc tụng, xin dâng khải mừng như sau: ……”

Ông sinh năm Đinh Hợi (1705), ngày 25/9, giờ Thìn, mất ngày 28/9 năm 1766 (thọ 61 tuổi). Ông được thờ tại Đền thờ ở Phường Hà Khẩu, nay là phố Hàng Buồm, Hà Nội. Thân tượng tại Chùa Từ Vũ[19].

Như vậy, ông Vũ Tất Thận (Trịnh Thiết) cũng là võ tướng, tham gia cầm quân nhiều trận chiến và có nhiều đóng góp cho triều đình Lê - Trịnh lúc đó.

6. Ban thờ chính giữa, phía trong gian Tiền tế

Thờ bài vị của 5 đời chúa Trịnh, là con, cháu, chắt của Bà Chúa, thể hiện những đóng góp của Bà Chúa Me cho gia tộc họ Trịnh, cụ thể:

- Chúa Trịnh Giang - tước Uy vương, dựng vua Thuần Tôn, vua Ý Tôn. Mặc dù có nhiều tai tiếng, nhưng là người săn sóc việc chính trị, khuyến khích được nho thần, đặc biệt có thái độ rất rõ ràng với Trung quốc;

- Chúa Trịnh Doanh - tước Minh vương, tôn phủ vua Lê Hiển Tôn, chọn dùng kẻ hiền tài, dẹp yên được loạn giặc, lưu tâm về việc chính trị, trăm họ an vui.

- Chúa Trịnh Sâm - tước Tĩnh vương, dẹp yên giặc Trấn Ninh, bình được trấn Thuận Hóa, sửa đổi việc chính trị.

- Chúa Trịnh Cán - tước Diện đô vương, phải quân tam phú bách bỏ.

- Chúa Trịnh Khải - tước Đoan nam vương, phải tên Nguyễn Trang bắt nộp Tây Sơn, không chịu khuất, bèn tự tận;

- Chúa Trịnh Bồng - tước Ấn đô vương, trí toan khôi phục lại nhà Lê Trịnh, lại bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh thua, chán nản sự đời, xuất gia đầu Phật[20]

7. Ban thờ chính giữa, phía ngoài gian Tiền tế

Thờ công đồng, thờ các vị thần linh, tiên thần, tôn thần, thành hoàng, Thánh Mẫu… là các bậc tiền nhân đã có công với cộng đồng, làng xã, dân tộc trong lịch sử đấu tranh giữ nước và dựng nước của người Việt Nam.

Trên đây là toàn bộ dự kiến những ban thờ và các nhân vật được thờ trong Đền thờ Quốc Thánh Mẫu. Hiện nay, việc thiết kế tượng Bà Quốc Thánh Mẫu, tượng của 2 vị tướng Trịnh Đạc, Trịnh Thiết và 02 người hầu của Bà Quốc Thánh Mẫu do Họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật Trịnh Quang Vũ[21] thiết kế. Ngoài ra, toàn bộ các bức đại tự, câu đối, tán văn... ghi trong Đền thờ nêu lên những công đức của Bà Quốc Thánh Mẫu cùng các bài vị thờ do PGS. TS. Nguyễn Tá Nhí[22], nguyên cán bộ của Viện Hán Nôm Việt Nam thực hiện.

 

Trịnh Vũ Anh Xuân

[1] Lịch triều hiến chương loại chí,
[2] Gia phả dòng họ Vũ tại thôn Phục Lễ;
[3] Lịch triều hiến chương loại chí, trang 765, 766
[4] Gia phả dòng họ Vũ tại thôn Phục Lễ
[5] Trịnh Gia chính phả;
[6] Gia phả dòng họ Vũ thôn Phục Lễ
[7] Gia phả dòng họ Vũ thôn Phục Lễ;
[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 831
[9] Theo Đinh Khắc Thuân (chủ biên), Văn thơ Phủ Chúa Trịnh, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, NXB Văn hóa - Thông tin 2012 (trang 54
[10] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 831
[11] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 832
[12] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 841
[13] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 842
[14] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 853
[15] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 869
[16] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 894
[17] Khâm định Việt Sử thông giám cương mục, trang 897
[18] Theo Đinh Khắc Thuân (chủ biên), Văn thơ Phủ Chúa Trịnh, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, NXB Văn hóa - Thông tin 2012 (trang 54)
[19] Gia phả dòng họ Vũ tại thôn Phục Lễ
[20] Trịnh Gia chính phả
[21] Họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật Trịnh Quang Vũ được đánh giá là chuyên gia số một về trang phục thời phong kiến ở Việt Nam. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về trang phục thời phong kiến như sách Lịch sử trang phục các triều đại phong kiến Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin 2007; sách Lịch sử mỹ thuật Việt Nam, NXB Mỹ thuật; sách Trang phục Triều Lê Trịnh, NXB Từ điển Bách Khoa, năm 2007 và nhiều nghiên cứu công bố trong Tổng tập Ngàn năm Văn Hiến Thăng Long, Hà Nội (Tổng tập có 12.000 trang thì Họa sĩ Trịnh Quang Vũ có 700 trang viết và 300 bức tranh ảnh sưu tầm được) (xem thêm tại: http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/nguoi-giu-hon-thang-long-20100620054949853.htmhttp://www.baomoi.com/sau-nang-mot-tinh-yeu-ha-noi/c/6015522.epi    
[22] PGS. TS. Nguyễn Tá Nhí được đánh giá là chuyên gia hàng đầu về chữ Nôm ở nước ta, một người có vốn kiến thức uyên thâm, sâu sắc và đa chiều về tiếng Việt cổ. Ông là tác giả, đồng tác giả, chủ biên của nhiều công trình có giá trị cao về ngôn ngữ, văn hóa của người Việt  như: sách Tổng tập Văn học Nôm Việt Nam (tập 1), NXB Khoa học Xã hội; sách Văn học Hán Nôm Hà Tây 10 thế kỷ; sách Địa chí Hà Tây, NXB Hà Nội, v.v…. (xem thêm tại đây)

Đánh giá bài viết này
(0 đánh giá)

Thông điệp từ BQT

Website đã liên tục cập nhập thêm nhiều nội dung mới, nhất là các bài viết, hình ảnh, video và tài liệu. Đề nghị mọi người có hình ảnh, video và tài liệu có thể chia sẻ được gửi cho Ban Biên tập Website để chia sẻ đến mọi người.

Email: bachuame@gmail.com

Trân trọng cám ơn!

Lượt truy cập

593782
Hôm nay
Hôm qua
Trong tuần
Tuần trước
Trong tháng
Tháng trước
Tổng
231
1964
2195
579886
32759
60404
593782
Your IP: 54.158.55.5
2017-10-24 05:07

Liên kết

Hình ảnh hoạt động